Vật Lý Trị Liệu - Hải Dương
CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI FORUM Vật Lý Trị Liệu - Hải Dương


Hãy ĐĂNG KÝ hoặc ĐĂNG NHẬP để tham gia
chia sẻ trên diễn đàn

CHÚC VUI VẺ !!!!!!!!
Đăng Nhập

Quên mật khẩu

Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 


Rechercher Advanced Search

October 2014
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

Calendar Calendar

Thống Kê
Hiện có 1 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 1 Khách viếng thăm

Không

[ View the whole list ]


Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 13 người, vào ngày Sun Aug 03, 2014 10:20 am
Latest topics
» MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU, MÁY NÉN ÉP ĐIỀU TRỊ , MÁY MASSAGE ĐA NĂNG , MÁY MASSAGE TOÀN THÂN , MAY NEN EP
Fri Sep 12, 2014 8:54 am by boykun289

» MÁY SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ, MÁY SIÊU ÂM, MÁY SIÊU ÂM ĐA TẦN, SIÊU ÂM, ĐIỀU TRỊ BẰNG SIÊU ÂM, SIÊU ÂM ĐA TẦN HC SOUND
Fri Sep 12, 2014 8:53 am by boykun289

» MÁY ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG XUNG KÍCH, XUNG KÍCH, ĐIỀU TRỊ BẰNG SÓNG XUNG KÍCH
Fri Sep 12, 2014 8:50 am by boykun289

» Máy kéo giãn cột sống, liệu pháp kéo cột sống, hệ thống kéo dãn cột sống, máy kéo giãn, kéo dãn, Máy kéo giãn cột sống lưng cổ.
Fri Sep 12, 2014 8:49 am by boykun289

» Máy điện xung đa năng 2 kênh, Máy điện xung, máy điện phân, điện xung điều trị, máy kích thich, máy điện xung trị liệu, điện xung, điện phân, giao thoa
Fri Sep 12, 2014 8:49 am by boykun289

» MÁY NÉN ÉP TRỊ LIỆU, MÁY NÉN ÉP ĐIỀU TRỊ , MÁY MASSAGE ĐA NĂNG , MÁY MASSAGE TOÀN THÂN , MAY NEN EP
Fri Sep 12, 2014 8:48 am by boykun289

» MÁY SÓNG NGẮN ĐIỀU TRỊ , MÁY SÓNG NGẮN TRỊ LIỆU , MAY SONG NGAN , LIEU PHAP SONG NGAN , MAY TRI LIEU SONG NGAN, SÓNG NGẮN TRỊ LIỆU
Fri Sep 12, 2014 8:47 am by boykun289

» Máy từ trường điều trị, Máy từ trường trị liệu, từ trường, điều trị từ trường, Máy từ trường cao áp
Fri Sep 12, 2014 8:47 am by boykun289

» MÁY SIÊU ÂM ĐIỀU TRỊ, MÁY SIÊU ÂM, MÁY SIÊU ÂM ĐA TẦN, SIÊU ÂM, ĐIỀU TRỊ BẰNG SIÊU ÂM
Fri Sep 12, 2014 8:46 am by boykun289

Affiliates
free forum


DÒNG MỘT CHIỀU VÀ ĐIỆN PHÂN THUỐC

Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

DÒNG MỘT CHIỀU VÀ ĐIỆN PHÂN THUỐC

Bài gửi by MRHoàngmập on Thu Sep 22, 2011 7:33 pm

DÒNG MỘT CHIỀU VÀ ĐIỆN PHÂN THUỐC

MỤC TIÊU:
Sau khi học xong , sinh viên trình bày được:
- Tác dụng sinh lí của dòng điện 1 chiều , chỉ định, chống chỉ định điều trị điện phân dẫn thuốc.
- Chuẩn bị kỹ thuật tiến hành điện phân dẫn thuốc, tai biến khi điều trị điện phân thuốc
NỘI DUNG
ĐAI CƯƠNG
1. NGUYÊN TẮC PHÁT SINH DÒNG ĐIỆN 1 CHIỀU (GALVANIC)
1.1. ĐÈN 2 CỰC
Đèn hai cực dùng để biến dòng điện xoay chiều thành một chiều với nguyên tắc điện tử chỉ di chuyển một chiều từ âm đến dương cực. Đèn hai cực gồm một bầu thủy tinh mà trong là chân không gồm có:
- Catot còn gọi là tuyến cực là dây tungsten f đốt nóng bởi một nguồn điện 6,3V giữa hai đầu FF'. Dòng điện này là dòng xoay chiều được cung cấp bởi máy hạ thế.
- Anot hay bản cực P là một tấm kim loại bao quanh tuyến cực.









Hình 6-1
Sau khi đốt nóng dây tungsten, các điện tử sẽ bức xạ và di chuyển về bản cực nếu nó có điện thế dương. Nói khác đi, điện tử chỉ có thể đi qua đèn theo một chiều từ f đến p. Kết quả là ta có được một dòng điện xung động một chiều. Đèn hai cực (diod) là bộ phận điện nửa sóng. Ta có thể nắn điện toan sóng nhờ hai diod hay một diod kép.
1.2. MẠCH ĐIỆN CƠ BẢN.
Dòng điện thành phố qua biến thế (hình 6-2). Từ biến thế sẽ có cuộn thứ cấp hạ thế (2) cung cấp điện áp 6,3 V cho tuyến cực (tim đèn) và cuộn thứ cấp (3) cho hai bản cực. Hai bản cực này luân phiên nhau nhận điện thế dương của mạch điện nên điện tử qua đèn hai cực (4) liên tục. Dòng điện xoay chiều (A) đã được nắn thành dòng một chiều nhưng chưa đều vì cường độ còn thay đổi (B). Sau khi qua bộ lọc (5) gồm hai tụ điện C1 và C2 và một cuộn cảm L thì dòng điện trở nên phẳng (C). ở chiết áp (6) ta lấy ra được một phần điện thế một chiều dùng cho bệnh nhân. Đồng hồ đo mA (7) cho biết cường độ dòng điện qua bệnh nhân.











Hình 6-2: Mạch điện cơ bản dùng diod kép
Đèn hai cực có thể thay thế bằng chỉnh lưu kim loại được gắn theo mạch cầu Westinghouse (hình 6-3).







Hình 6-3: Mạch điện cơ bản dùng chỉnh lưu kim loại.
Mạch điện dùng cho bệnh nhân có thể được mắc thêm một nút đổi chiều dòng điện
(hình 6-4).







Hình 6-4: Nút đổi chiều dòng điện
2. Cơ sở vật lý của dòng điện một chiều đều
2.1.Nguồn của dòng một chiều đều.
Dòng một chiều đều (còn gọi là dòng galvanic) là dòng điện có cường độ và chiều không đổi theo thời gian. Dòng điện của pin, acqui, dòng điện qua bộ chỉnh lưu là dòng điện một chiều đều. Phân biệt với dòng điện xung một chiều có chiều không đổi nhưng thay đổi cường độ.

2.2. Điện thế sinh vật của tổ chức sống
Sự hoạt động của tổ chức sống (tế bào, cơ quan, cơ thể) đều gắn liền với hiện tượng điện sinh vật. Giữa tế bào chất (nội tế bào) và môi trường ngoài tế bào luôn luôn có sự trao đổi chất dinh dưỡng và điện giải qua màng tế bào. Điện thế màng có được là do sự khác biệt về số ion dương và âm ở hai bên màng tạo nên một hiệu điện thế - 60mV ở trạng thái nghỉ nên còn gọi là điện thế nghỉ, mặt ngoài màng tích điện dương và mặt trong tích điện âm. Trong tế bào số ion K+ cao hơn Na+ và thấp hơn ngoài tế bào. Khi bị kích thích tế bào chuyển sang trạng thái hoạt động do điện tích ở mặt ngoài và trong màng tế bào thay đổi, điện thế màng trở nên dương hơn so với hiện tượng khử cực và thay đổi rất nhanh đến trị số dương tối đa +25mV gọi là điện thế động. Sau đó bắt đầu hiện tượng tái cực và trở lại trạng thái ban đầu. Hiện tượng điện sinh vật trên đây là cơ sở trong chẩn đoán điện não, điện tim, điện cơ... và trong điện trị liệu.
2.3. Một số quá trình lý học trong tổ chức sống dưới tác dụng của dòng điện một chiều đều.
- Sự dẫn truyền điện trong tổ chức là do chuyển dời ion, khả năng dẫn truyền lệ thuộc nhiều yếu tố như lượng dịch thể, hằng số điện môi của tổ chức, sự có mặ của các màng ngăn cách (màng tế bào, màng cơ, vách ngăn các cơ quan...). Điện trở của da cao cũng ngăn cản dòng điện vào tổ chức.
Phần tổ chức cơ thể giữa hai điện cực khi có dòng một chiều đều chạy qua xuất hiện sự chuyển rời ion: các ion dương (anion) chạy về phía cực âm (cathode) và các ion âm (cathion) chạy về phía cực dương (anode). Cấu trúc cơ thể như đã nói trên là không đồng nhất lại có màng ngăn cách có thể coi như các ô độc lập với nhau nên sự chuyển dời ion không được tự do dưới lực điện năng như trong dung dịch điện phân. Sự tích tụ các ion ở màng tạo nên hiện tượng cực hóa hay phân cực. Cực hóa làm tăng điện trở của tổ chức và giảm cường độ dòng điện đi qua tổ chức. Một thí nghiệm ở da cho thấy saukhi đã cắt nguồn điện một chiều đều còn tồn lưu một dòng điện ngược chiều với dòng điện nguồn khoảng 10 - 20 microampe trong vòng 1 - 2 phút. Hiện tượng cực hóa là hiện tượng cơ bản của dòng điện một chiều đều trong tổ chức cơ thể có ý nghĩa đặc biệt về tác dụng sinh lý.
- Quá trình khuyếch tán và thẩm thấu: do cực hóa các ion tích tụ ở mặt màng ngăn và khuyếch tán màng gọi là hiện tượng khuyếch tán, nhờ khuyếch tán nên thăng bằng ion được lập lại và hiện tượng cực hóa mất đi. Dòng điện một chiều đều đã làm tăng hiện tượng cực hóa. Quá trình thấm thấu xảy liên tục trong tổ chức sống, là hiện tượng các phân tử nước hoặc các dung môi khác di chuyển qua màng tế bào. Dòng điện một chiều đều làm thay đổi mật độ ion của tổ chức nên ảnh hưởng đến độ thẩm thấu của màng.
3. TÁC DỤNG SINH LÝ CỦA DÒNG ĐIỆN 1 CHIỀU (DÒNG GALVANIC)
Cấu trúc cơ thể người và động vật có thể xem như một vật thể xốp, thấm một dung dịch hỗn hợp nhiều thành phần (nước chiếm 70 - 75 %) và nhiều chất điện giải mà NaCl chiếm một tỷ lệ cao nhất. Khi có dòng điện một chiều đều đi qua cơ thể xuất hiện các hiện tượng:
3.1. TÁC DỤNG TRÊN SỰ TẬP TRUNG CỦA CÁC ION.
Khi dùng Galvanic qua cơ thể, giữa các điện cực có một điện trường hằng động làm cho tất cả các chất dưới dạng ion di chuyển, đồng thời có sự vận động của phần tử nước. Các ion mang điện tích dương gọi là cation đi về cực âm (catot), các ion âm tức anion đi về dương cực (anot).
Các ion di chuyển với những vận tốc khác nhau. Vận tốc di chuyển của ion phụ thuộc vào sự thăng bằng của các ion trong các tổ chức sẽ bị phá huỷ dưới tác dụng của dòng Galvanic, dẫn đến kết quả là có sự tập trung của các ion ở ranh giới giữa các tổ chức, kể cả ở màng tế bào. Ngoài ra, dòng Galvanic cũng ảnh hưởng đến sự thẩm thấu nước qua tế bào. Hiện tượng này gọi là điện thẩm. Các sự thay đổi này gây nên các phản ứng phản xạ và các phản ứng do thay đổi tính chất thể dịch của cơ thể. đây chính là mục đích điều trị mà ta nhằm thực hiện.
Tại vùng da tiếp xúc với điện cực kim loại bị bỏng có tính hóa học gây hoại tử tổ chức do: NaCl trong dịch thể tổ chức được phân li NaCl  Na+ + Cl-, các ion Na+ và Cl- khi chạm vào điện cực kim loại bị mất điện tích trở thành nguyên tố Na và Cl có hoạt tính hóa học, chúng phản ứng với nước (H2O) trở thành HCl và NaOH tại vùng da tiếp xúc với điện cực kim loại. HCl gây bỏng axit và NaOH gây bỏng kiềm. Bỏng do axit thường bỏng sâu và để lại sẹo cứng, bỏng kiềm nông và sẹo mềm.
NaCl
Tại cực dương
Cl2 + H2O =
2HCl + O Tại cực âm
H2O + Na =
NaOH + H
Để loại trừ hiện tượng bỏng hóa học này trong điều trị dòng điện một chiều đều cần có một lớp vải đệm đặt giữa điện cực kim loại và da dày 1- 1,5 cm thấm nước, HCl và NaOH chỉ nằm tại chỗ lớp vải đệm gần điện cực kim loại không thể tác hại đến da, còn dòng điện vẫn truyền vào tổ chức.

3.2. TÁC DỤNG VẬN MẠCH.
Dòng Galvanic tạo nên một hậu quả co mạch trong một giai đoạn ngắn rồi chuyển qua quá trình giãn mạch rõ rệt ở giữa hai điện cực. Hiện tượng này tồn tại trong vài giờ rồi sau đó mất hẳn. Quá trình dãn mạch không phải chỉ xuất hiện trên bề mặt da, mà còn xuất hiện ở các mạch máu nằm sâu trong các lớp cơ. Tác dụng dãn mạch của dòng Galvanic không phải là tác dụng gây nóng lên thành mạch, mà là tác dụng trên hệ thống thần kinh vận mạch đây là một tác dụng trực tiếp.
Tác dụng này dẫn đến một kết quả xa hơn là điều trị nhanh chóng đối với những trường hợp da thiểu năng dinh dưỡng, đối những vết loét lâu lành. Ngoài ra, do sự gia tăng tuần hoàn mà các biểu hiện viêm nhiễm và phù nề giảm bớt triệu chứng đau thoái triển. Hơn nữa, dòng Ganvanic còn có giá trị kích thích dinh dưỡng đối với các chi bại liệt, teo cơ.
3.3. TÁC DỤNG LÊN HỆ THẦN KINH CẢM GIÁC.
Với các kích thích nhỏ và đều đặn như kim châm của dòng Ganvanic, nó có tác dụng làm dịu các đầu thần kinh thụ cảm ở da. Ngoài ra, với các kích thích nhỏ này còn có thể làm thoái triển được các kích thích mạnh do các quá trình bệnh lý tạo nên.
Dòng Galvanic có cường độ không đổi nên không gây những thay đổi lớn trong cơ thể. Vì thế, nó được sử dụng như một phương pháp điều trị ôn hoà trong những trường hợp viêm rễ dây thần kinh cấp và đau dây thần kinh. Tác dụng giảm đau thấy ở dưới hai điện cực nhưng bị hạn chế nhiều ở âm cực. Tại điểm cực dương giảm kích thích và giảm co thắt có tác dụng chính giảm đau, tại điểm cực âm tăng mẫn cảm và trương lực có tác dụng giảm kích thích.
4.CÁC PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG
3.1. DÒNG GALVANIC VỚI ĐIỆN CỰC TẤM.
3.1.1. Điện cực và vải đệm:
Điện cực là những tấm mềm mại dễ uốn bằng chì hay kẽm, dày khoảng 0,3 - 1 mm. Các góc điện cực được cắt tròn để điện không tập trung. Các vật đệm dưới điện cực làm bằng nguyên liệu thấm nước tốt. Thường dùng vải hay gạc xếp làm nhiều lớp dày khoảng 1- 2 cm hoặc những tấm bọt biển. Sau khi điều trị thì các tấm chì được là (ủi) cho thẳng và các tấm lót phải được giặt sạch dưới một nguồn nước lưu chuyển để loại bỏ các ion tích tụ ở trong.
Sau khi điều trị nhiều lần, bề mặt chì sẽ bị một lớp oxyd hoặc muối bao phủ làm độ dẫn điện kém. Vì thế, khoảng 1-2 tháng cần dùng giấy nhám đánh bóng lại một lần. Điện cực cao su dẫn điện thường chỉ sử dụng 6 tháng - 1 năm.
Vải đệm bằng vải bông hoặc mút xốp dày 1 - 1,5 cm thấm nước tốt. Kích cỡ theo dạng điện cực nhưng các chiều lớn hơn 0,5 - 1 cm của điện cực để hạn chế sự chạm trực tiếp điện cực lên da. Sau mỗi lần điều trị bên mặt vải đệm tiếp xúc với điện cực có tích lũy HCl ở cực dương và NaOH ở cực âm vì vậy phải giặt kỹ, ngâm, luộc hoặc hấp. Tốt nhất là Các vật đệm phải được chuẩn bị tốt để tránh lây lan bệnh ngoài da.
Các điện cực có thể đặt đối diện trực tiếp, đặt chéo hay đặt đồng diện tuỳ theo ta muốn có sự phân bố của điện trường. Hai điện cực nên bằng nhau để tránh sự tập trung điện cực nhỏ. Khoảng cách giữa hai điện cực không được nhỏ hơn so với kích thước của điện cực. Trong những trường hợp bất khả kháng thì khoảng cách không được dưới 3cm.
3.1.2. Cố định điện cực và vải đệm.
Vải đệm phải tiếp xúc tốt với toàn bộ bề mặt da, điện cực kim loại hoặc cao su dẫn điện đặt trên vải đệm và nối với dây điện cực đảm bảo tiếp xúc tốt. Điện cực và vải đệm được cố định không bị xê dịch trong lúc điều trị. Bảo đảm tiếp xúc tốt trong quá trình điều trị có ý nghĩa quan trọng: mật độ dòng điện đều trên toàn bộ mặt da tiếp xúc với điện cực, tránh hiện tượng điện giật do có dòng và mất dòng đột ngột, xê dịch điện cực tiếp xúc với da gây bỏng.
3.1.3. Đặt điện cực.
Với dòng điện một chiều đều, tác dụng chính tại cực âm gây kích thích và tăng trương lực, tại cức dương gây ức chế giảm đau. Tùy theo mục đích và vùng tác dụng ( đầu cổ, chi trên, chi dưới...). Cách đặt điện cực có thể đối diện, đặt lệch, trên cùng mặt phẳng... Cần phải kiểm tra da trước khi đặt điện cực, nếu vùng da bẩn, có vết rách xước hoặ có bệnh ngoài da không được đặt điện cực.
3.1.4. Liều lượng.
Liều điều trị bao gồm: cường độ dòng điện/ diện tích vải đệm (mA/cm2), thời gian, liệu trình. Thông thường 0,01 - 0,1 mA/cm2, thời gian 10 - 30 phút, liệu trình hàng ngày hoặc cách ngày, đợt 7 - 20 ngày.
Cường độ dòng điện cho phép là 0,2 mA/ cm2 và không được cao hơn. Nếu không sẽ gây nên hiện tượng đốt điện và một cảm giác đau buốt.
Cường độ dòng điện được tiêu chuẩn hoá chặt chẽ giữa hai yếu tố: quá trình bệnh lý và sự nhạy cảm của bệnh nhân đối với dòng điện. Nói chung trong quá trình bệnh cấp tính thì dùng liều nhỏ và ngược lại. Đối với bệnh nhân thì một liều trung bình sẽ cho cảm giác châm chích và nóng nhẹ. Sau điều trị sẽ có một vùng đỏ da nhẹ và đồng đều dưới hai điện cực.
Cần kết hợp với cảm giác bệnh nhân vì có những trường hợp cảm ứng khác nhau. Đạt cảm giác châm chích lăn tăn, không rát hoặc đau, khi tăng giảm cường độ phải từ từ vì dòng một chiều có thể gây co giật cơ khi đóng, mở hoặc tăng đột ngột. Thường có hiện tượng lúc mới đầu đồng hồ cường độ chỉ đúng, sau 1 - 2 phút cường độ tự tăng lên một ít do da ẩm làm cường độ giảm, nên lúc đầu điều chỉnh cường độ hơi thấp so với dự định một ít.
Diện tích điện cực phải lớn nhằm mục đích khắc phục sức đề kháng của da, vì đường dẫn điện vào cơ thể chủ yếu là do các tuyến mồ hôi. Khả năng dẫn điện của da phụ thuộc vào sự bài tiết của các tuyến mồ hôi, sự lưu thông máu giảm bớt điện trở của da, cần chuẩn bị tốt bằng làm nóng da, thấm nước tốt các vật đệm dưới điện cực.
Muốn có tác dụng sâu, diện tích, điện cực phải lớn, để bù lại những tổn thất của các đường sức điện, do sự phân tán ở các bờ điện cực. Sự phân tán làm giảm mật độ điện trường ở các mô sâu. Ngoài ra, điện cực lớn còn cho phép ta sử dụng cường độ dòng điện lớn hơn, nhằm bù đắp lại sự giảm cường độ qua việc khắc phục sức đề kháng của da.
3.2. TẮM GALVANIC.
Tắm galvanic có thể là tắm từng phần hay toàn thân. Tắm ganvanic từng phần chủ yếu dùng cho các chi. Bồn tắm la các bình rộng sứ cách điện với các điện cực ngâm trong nước bằng than. Tắm ganvanic toàn thân, bồn tắm rộng hơn làm bằng gỗ hay chất dẻo với các điện cực tấm lớn bằng than.
Sử dụng phương pháp tắm ganvanic có điểm thuận lợi là sự phân bố các đường tích điện đều hơn. Ngoài ra tắm ganvanic còn được hỗ trợ bằng áp lực thuỷ tinh và nhiệt độ của nước.
Cần lưu ý là trong tắm ganvanic từng phần, các đienẹ cực đặt sao cho để các đường sức điện không đi qua tim.
3.3. ĐIỆN PHÂN DẪN THUỐC.
3.3.1. Định nghĩa điện phân dẫn thuốc: Là phương pháp đưa thuốc vào cơ thể bằng dòng điện 1 chiều. Phương pháp này nhằm kết hợp tác dụng của dòng Galvanic và tác dụng của các ion thuốc sẵn có. Nguyên tắc chính là các thuốc phân ly dưới dạng ion sẽ được di chuyển đến các điện cực trái dấu. Phương pháp này cũng có ích trong mục đích loại bỏ bớt các ion có hại trong cơ thể.
3.3.2. Thực nghiệm của Leduc.
Thí nghiệm của Leduc:
- Hai con thỏ L1 và L2 được cạo lông ở hai bên hông, L1 và L2 để cạnh nhau, ở giữa hai con ( chỗ cạo lông ) được đặt miếng bông C tẩm thuốc thí nghiệm, hai bên hông khác ( chỗ cạo lông )của L1 và L2 nối với 2 điện cực của máy điện một chiều đều qua lớp vải đệm, L1 với cực + và L2 với cực -. Thuốc thí nghiệm là dung dịch sulphat strychnin và dung dịch cyanua kali
+ Lần 1: miếng bông C tẩm sulphat strychnin, cho dòng điện một chiều chạy qua, vài phút sau thỏ L2 co giật và chết. Do strychnin là một alcaloid bị phân ly từ dung dịch, mang điện tích + nên di chuyển qua cơ thể L2 về phía cực - gây đầu độc L2 trong khi L1 vẫn bình thường
- + Lần 2: cũng hai con thỏ như lần 1, nhưng miếng bông C tẩm dung dịch cyanua kali cho dòng điện một chiều chạy qua vài phút sau thỏ L1 chết. Do cyanua là một chất gốc axit bị phân ly từ dung dịch, mang điện tích - nên di chuyển qua cơ thể L1 về phía cực + gây đầu độc L1 trong khi L2 vẫn bình thường
- Về thực nghiệm Leduc nhận thấy: lượng sulphat strychnin tẩm vào bông 0,04 mg khi chưa có dòng điện chạy qua L2 bình thường. Cho dòng điện chạy qua L2 chết, thay bằng con L2 khác cũng như con đầu vài phút sau chết, tiếp tục thay đến con thứ 9 vẫn chết. Có nghĩa là với lượng sulphat strychnin 0,04 mg bằng dòng điện một chiều đều đã giết nhiều con thỏ. định lượng strychnin ở máu các con thỏ chết không thấy vết strychnin. Thí nghiệm bằng tiêm tĩnh mạch phải tới 0,01 g sulphat strychnin thỏ mới chết và định lượng sulphat strychnin trong máu thỏ chết là 0,01mg%
Một thí nghiệm khác:
Cho uống hợp chất liti thường chỉ sau 24 giờ không còn vết trong nước tiểu vì đã bị thải trừ hết. Nhưng nếu điện phân dung dich có liti thì sau 3 - 5 ngày vẫn còn vết trong nước tiểu. Đưa thuốc vào bằng điện một chiều thải trừ chậm hơn uống. Vì khi điện phân thuốc không vào ngay trong máu mà tích tụ trong da thành một kho dự trữ sau đó khuyếch tán dần vào máu
Như vậy đưa thuốc vào cơ thể bằng đường điện phân có ưu điểm: lượng thuốc nhỏ nhưng hoạt tính cao, thuốc tập trung vào vùng cần thiết và thời gian thải trừ chậm.
Trong thực hành cần chú ý:
- Thuốc phải hoà tan vào trong nước dưới dạng dung dịch và thuốc đó không bị phá huỷ bởi dòng điện một chiều
- Đặt thuốc tại điện cực dương hay âm có tính quyết định. Thông thường thuốc có gốc axit, các á kim khi bị phân li mang điện ( - ) nên đặt tại cực ( - ), các thuốc có gốc kim loại và alcaloid khi bị phân li mang điện (+ ) nên đặt tại cực ( + )
- Dung dịch đệm phải tinh khiết, còn chất lượng, các vải đệm phải sạch để tránh các ion ký sinh lúc điều trị choán chỗ các ion thuốc hoặc vô hiệu hoá
3.3.3. Thuốc dùng trong điện phân
TT Tên ion Chất sử dụng Tỷ lệ 10% Cực đưa thuốc vào
1 Adrenalin Adrenalin clohydrat 0.1% +
2 Atropin Atropinsunfat 0.1% +
3 Antipyrin Antipyrin 1-5% +
4 Ascovit Vitamin C 5-10% -
5 Biomyxin Biomyxin 0.5% +
6 Bromua Natri Bromua 1-10% -
7 Bromua Kali Bromua 1-10% -
8 Canxiclorua Canxiclorua 2-10% +
9 Clo Natriclorua 2-10% -
10 Dimedron Dimedron 0.25-0.55% +
11 Ephedrin Ephedrin 0.1% +
12 Novocain Novocain 1-10% +
13 Penixiclin Penixiclin 1000-5000 đvị -
14 Streptomixin Streptomixin sunfat 0.1g/ml +
15 Tetraxiclin Tetraxiclin 1-5% +
16 Vitamin B1 Vitamin B1 1-5% +
17 Iot Kali, natri, iodure 1 - 10 % -
3.3.4. Chỉ định, chống chỉ định điện phân thuốc
- Chỉ định:
+ Giảm đau: đau cơ, đau do chấn thương, đau khớp, bệnh thần kinh ngoại biên.
+ Chống viêm: viêm cơ, viêm gân, viêm khớp.
+ Tăng dinh dưỡng tổ chức, kích thích quá trình tái sinh: vết thương lâu lành, vết thương lâu lên da non, sẹo xơ cứng…
+ Điều hòa hoạt động thần kinh trung ương, rối loạn tuần hoàn não, nhức đầu, đau đầu mất ngủ.
+ Thải trừ chất độc ra khỏi cơ thể (nhiễm độc chì)
+ Điện phân thuốc tại chỗ...
- Chống chỉ định:
+ Bệnh ngoài da: viêm da, hắc lào, ghẻ, Eczema, chàm nhiễm trùng...
+ Vết thương đang chảy máu, chảy máu nội tạng, rối loạn cảm giác vùng điện trị
+ Lao tiến triển, bệnh ung thư, bệnh nhân tâm thần, động kinh
+ Dị ứng với dòng điện, trẻ quá nhỏ < 1 tuổi.
+ Người mang máy tạo nhịp tim, người mang kim loại trong cơ thể: đinh, nẹp...
+ Thận trọng với người đang mang thai.
3.3.5. Chuẩn bị và tiến hành điện phân thuốc
3.3.5.1. Chuẩn bị dụng cụ
- Chuẩn bị máy và phương tiện: điện nguồn đúng, có dây nối đất, dây điện cực tiếp xúc tốt. Kiểm tra đưa các núm về vị trí số "O"
- Điện cực kim loại: bằng kẽm, chì, kích cỡ to nhỏ khác nhau tùy theo hình dáng từng bộ phận điều trị.
- Vải đệm điện cực
+ Vải màn, gạc, thấm nước tốt, khử trùng đúng qui định.
+ Vật đệm lớn hơn điện cực mỗi chiều 1-2cm tránh gây bỏng.
- Dây cao su to bản hoặc túi cát.
- Chăn đắp nếu trời rét.
- Dung dịch điện phân: phải là dung dịch có nồng độ thích hợp để đưa vào cơ thể bằng dòng điện một chiều đều. Dung dịch thuốc phải đảm bảo độ tinh khiết, chất lượng. Để tránh nhầm lẫn nên lọ thuốc cần ghi rõ ràng tên thuốc, nồng độ, ngày pha... loại cần phải để trong lọ mầu và bảo quản theo quy định.
3.3.5.2. Chuẩn bị bệnh nhân
- Giải thích, nói rõ cảm giác khi dòng điện vào cơ thể.
- Nằm hoặc ngồi tư thế thuận lợi để điều trị.
- Bộc lộ vùng điều trị.
- Da vùng điều trị khô ráo sạch sẽ.
3.3.5.3. Chuẩn bị KTV
Áo mũ tác phong nhanh nhẹn.
3.3.5.4. Kỹ thuật tiến hành
Chọn điện cực và vải đệm, định cực (+) và cực (-). Thấm thuốc vào vải đệm, đặt điện cực đúng vị trí, cố định. Đóng điện nguồn, tăng cường độ dòng từ từ, đồng thời quan sát đồng hồ chỉ mA và hỏi cảm giác bệnh nhân, sau 1 - 2 phút kiểm tra lại nếu dòng điện tự tăng lên ( do da ẩm điện trở giảm ) thì điều chỉnh lại. Đặt đồng hồ thời gian. Trong quá trình điều trị phải theo dõi kiểm tra 5 phút một lần: nếu có diến biến bất thường như người bệnh cảm thấy nóng, đau, điện giật, choáng váng... phải lập tức hạ cường độ và tặt điện nguồn, kiểm tra lại.
Chú ý: Các ion thuốc phải đặt đúng điện cực, ion âm đặt ở cực âm, ion dương đặt ở cực dương, cực có thuốc đặt ở vùng điều trị.
3.3.6. Tai biến điều trị điện phân thuốc.
- Điện giật: do hở dây dẫn, cường độ dòng điện tăng đột ngột.
+ Nếu điện giật nhẹ nạn nhân hoảng sợ, mệt mỏi, không mất ý thức.
+ Nếu điện giật nặng sẽ có hạ huyết áp, ngừng thở, ngừng tim, mất ý thức.
+ Sử trí: Trợ tim mạch, nâng huyết áp- xoa bóp tim ngoài lồng ngực.. .
- Phản ứng với dòng điện: có thể gặp ở người quá mẫn cảm khi dòng điện đi qua não:
+ Ngừng điều trị, nghỉ ngơi.
+ Dùng thuốc trợ tim
+ Uống nước chè đường nóng.
- Dị ứng tại da: do da bẩn, vải đệm không sạch có nhiều ion ký sinh, dị ứng với dòng điện một chiều.
- Bỏng do vải đệm mỏng, điện cực chạm vào da bệnh nhân: ngừng điều trị, sử trí bỏng




MRHoàngmập
Lớp trưởng
Lớp trưởng

Nam Tổng số bài gửi: 81
Points: 235
Join date: 21/09/2011
Đến từ: Hải Dương

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Dòng Galvanic

Bài gửi by Hoatrend on Sat Mar 17, 2012 9:59 am

Đọc bài viết rất hay và có chiều sâu. Mình có một thắc mắc, rất lâu rồi vẫn không có ai giải thích cặn kẽ được. XIn mọi người chỉ giáo dùm.
Mình thấy máy VLTL nào cũng có tác dụng kích thích, giảm đau, VDmáy kích thích thần kinh cơ, máy siêu âm trị liệu..,mình muốn hỏi, làm thế nào để biết máy đó phù hợp với những ứng dụng nào. Có lẽ câu hỏi hơi rộng qúa nhưng Bạn có thể cho mình biết có phải dạng sóng của máy là yếu tố quyết định ứng dụng của máy?

Hoatrend
Khách viếng thăm


Về Đầu Trang Go down

Re: DÒNG MỘT CHIỀU VÀ ĐIỆN PHÂN THUỐC

Bài gửi by duongthuhang on Fri Apr 19, 2013 9:57 am

Minh cung hoc Vat Ly Tri Lieu tai Hai Duong, tai lieu cua ban dua tren giao trinh cua truong Y Hai Duong 100%, neu nhu ban co the tra loi duoc nhung dieu con khuc mac cua cac ban dua tren viec ban hieu ve ban chat nua cang tot. Nhu the se lam tang them kha nang hieu sau ve cac van de.

duongthuhang

Tổng số bài gửi: 1
Points: 1
Join date: 19/04/2013

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


Permissions in this forum:
Bạn được quyền trả lời bài viết